Tâm Lý Học & Chữa lành

Trang chủ/Tâm lý học 101

Tâm lý học 101

Tâm lý học có từ khi nào

Tùy vào cách hiểu "tâm lý học" là gì, câu trả lời có thể là hơn 140 năm, hoặc mấy ngàn năm. Cả hai đều đúng, và chỗ khác nhau mới là phần đáng nói.

Bích hoạ Trường học Athens của Raphael, Plato chỉ tay lên trời và Aristotle đưa tay xuống đất ở chính giữa một sảnh vòm, quanh hai người là các nhà tư tưởng cổ đại đang tranh luận, đọc và viết
Trường học Athens, Raphael, 1509-1511, bích hoạ tại Điện Tông toà Vatican. Plato và Aristotle ở chính giữa, Pythagoras đang viết ở góc dưới bên trái, Euclid cúi xuống chiếc compa ở góc dưới bên phải. Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons.

Câu hỏi này thú vị lắm, vì câu trả lời không đơn giản như bạn nghĩ đâu. Tùy vào cách mình hiểu “tâm lý học” là gì, câu trả lời có thể là “mới hơn 140 năm” hoặc “mấy ngàn năm rồi”. Để mình kể cho bạn nghe từ đầu.

Là một ngành khoa học chính thức, nó trẻ bất ngờ

Cột mốc được công nhận rộng rãi nhất là năm 1879, khi một ông giáo sư người Đức tên Wilhelm Wundt mở phòng thí nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới, tại trường Đại học Leipzig. Trước đó, những câu hỏi kiểu “con người suy nghĩ thế nào”, “cảm xúc từ đâu ra” đều được xếp vào địa hạt của triết học, chưa ai đo đạc, thí nghiệm gì cả. Wundt là người đầu tiên nói: “Không, tâm trí cũng có thể nghiên cứu bằng phương pháp khoa học, giống như vật lý hay sinh học vậy.” Ông cho người tham gia ngồi vào phòng thí nghiệm, bấm giờ phản ứng của họ với âm thanh, ánh sáng, rồi phân tích số liệu. Nghe đơn giản, nhưng đó là bước ngoặt biến tâm lý học từ một nhánh của triết học thành một ngành khoa học độc lập.

Wundt tóc bạc ngồi giữa bên chiếc bàn gỗ chất đầy dụng cụ đo, năm cộng sự mặc vest đứng vây quanh trong căn phòng trần cao
Wundt (ngồi) cùng nhóm cộng sự trong phòng thí nghiệm ở Leipzig, khoảng 1880. Tác giả không rõ, phạm vi công cộng, Wikimedia Commons.

Nhìn bức ảnh đó bạn sẽ thấy, phòng thí nghiệm của Wundt chẳng khác gì một căn phòng bình thường với vài dụng cụ đo lường thô sơ, chứ không hoành tráng như phòng lab bây giờ. Nhưng chính từ căn phòng khiêm tốn đó, hàng loạt sinh viên khắp châu Âu và Mỹ kéo tới học, rồi mang ý tưởng “nghiên cứu tâm trí bằng khoa học” về nước mình, tâm lý học từ đó lan ra khắp thế giới.

Nhưng con người đã “làm tâm lý học” từ rất lâu rồi

Trước Wundt cả hai ngàn năm, người Hy Lạp cổ đại đã bàn về tâm trí, linh hồn, cảm xúc một cách rất nghiêm túc. Aristotle, khoảng thế kỷ 4 trước Công nguyên, viết hẳn một cuốn sách tên là Peri Psychēs (thường dịch là “Về Linh hồn”), bàn về cảm giác, trí nhớ, giấc mơ, động lực hành động của con người. Đọc kỹ thì bạn sẽ thấy nhiều câu hỏi trong đó chẳng khác gì tâm lý học hiện đại đang hỏi: tại sao con người lại nhớ được chuyện này mà quên chuyện kia, cảm giác và nhận thức khác nhau ở đâu.

Một trang giấy da ngả vàng chép tay De anima bằng chữ Latinh hai cột, tiêu đề và chữ cái đầu tô đỏ xanh, lề kín ghi chú nhỏ
Một trang bản chép tay De anima, thế kỷ 14, thủ bản Vaticanus Palatinus latinus 1033. Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons.

Chữ “psychology” (tâm lý học) thật ra cũng bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: psyche nghĩa là linh hồn hoặc tâm trí, logos nghĩa là lời nói, học thuyết. Ghép lại là “học thuyết về tâm hồn”. Nhưng bản thân từ “psychology” thì mãi đến khoảng thế kỷ 16, tức gần 2000 năm sau Aristotle, các học giả châu Âu mới bắt đầu dùng để đặt tên cho lĩnh vực này, lúc đó nó vẫn còn nằm trong lòng triết học và thần học, chưa tách ra riêng.

Giai đoạn bản lề: khi triết học bắt đầu “chia tay” thần học

Đến thế kỷ 17, một nhân vật quan trọng xuất hiện: René Descartes. Ông là người đưa ra ý tưởng thân xác và tâm trí là hai thứ tách biệt nhau, thân xác thì vận hành như một cỗ máy, còn tâm trí (linh hồn) thì thuộc về một cõi khác. Nghe có vẻ lạ với tư duy hiện đại, nhưng ý tưởng này cực kỳ quan trọng, vì nó mở đường để người ta bắt đầu nghĩ: có thể nghiên cứu thân xác, bộ não bằng khoa học thực nghiệm, tách biệt khỏi những tranh cãi tôn giáo về linh hồn.

Tranh sơn dầu một người đàn ông tóc đen dài ngang vai, ria mép, cổ áo trắng bẻ trên áo choàng sẫm màu, nhìn thẳng ra ngoài trên nền nâu xám
Chân dung René Descartes, Frans Hals, 1649. Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons.

Sau Descartes, các triết gia người Anh như John Locke rồi David Hume tiếp tục đào sâu câu hỏi này theo hướng khác: tâm trí con người khi mới sinh ra có phải là một “tấm bảng trắng” không, mọi hiểu biết đều đến từ trải nghiệm? Những cuộc tranh luận triết học đó, qua nhiều thế kỷ, dần dần tích lũy thành nền móng để đến năm 1879, Wundt mới có đủ “nguyên liệu” để biến nó thành một ngành khoa học thực nghiệm.

Rồi từ một cái cây, mọc ra nhiều nhánh

Sau Wundt, tâm lý học phát triển rất nhanh và chia thành nhiều trường phái khác nhau. Ở Mỹ, William James viết cuốn Các nguyên lý Tâm lý học năm 1890, được xem như cuốn sách giáo khoa đầu tiên của ngành.

Người đàn ông râu bạc rậm, tóc hoa râm chải ngược, mặc vest đen thắt nơ chấm bi, nhìn nghiêng về phía xa
William James, ảnh Alice Boughton, khoảng 1907, National Portrait Gallery. Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons.

Cùng thời điểm đó, Sigmund Freud ở Áo lại đi theo một hướng hoàn toàn khác, ông đào sâu vào phần vô thức, những ham muốn và ký ức bị dồn nén, khai sinh ra trường phái phân tâm học. Sau này còn có thêm trường phái hành vi, tâm lý học nhận thức, và rất nhiều nhánh khác nữa, mỗi trường phái nhìn tâm trí con người theo một góc riêng.

Người đàn ông lớn tuổi tóc bạc, râu quai nón tỉa gọn, mặc vest ba mảnh có dây đồng hồ, tay phải cầm điếu xì gà đưa ngang ngực
Sigmund Freud, ảnh Max Halberstadt, khoảng 1921. Phạm vi công cộng, Wikimedia Commons.

Vậy nên trả lời thế nào

Nếu có ai hỏi bạn “tâm lý học có từ khi nào”, câu trả lời chính xác nhất nên chia làm hai vế: là ngành khoa học chính thức thì mới ra đời năm 1879, còn là câu hỏi về tâm trí, cảm xúc, linh hồn con người thì loài người đã trăn trở từ thời Hy Lạp cổ đại, thậm chí còn sớm hơn nữa nếu tính cả các truyền thống tư tưởng phương Đông, như Phật giáo cũng đã có những phân tích rất tinh vi về tâm trí (như trong Vi Diệu Pháp) từ trước Công nguyên rất lâu, chỉ là không đi theo con đường thực nghiệm như phương Tây mà thôi.

Cái hay là khi đặt hai truyền thống đó cạnh nhau, mình mới thấy con người ở đâu, thời nào, cũng tò mò về chính tâm trí của mình cả.

Thử: