Tâm Lý Học & Chữa lành

Trang chủ/Tâm lý học 101

Tâm lý học 101

Tâm lý học là một khoa học

Tâm lý học nghiên cứu gì, bằng phương pháp nào, ra đời ra sao và đứng ở đâu giữa các ngành khoa học. Tấm bản đồ nền trước khi đi sâu.

Một chàng trai áo trắng đứng trên mỏm đá, nhìn xuống thành phố dày đặc nhà cao tầng bên bờ vịnh
Ảnh của Zheng XUE trên Unsplash

Đối tượng của tâm lý học

Tâm lý học nghiên cứu các hiện tượng tâm lý. Đó là những hiện tượng tinh thần sinh ra trong não người khi thế giới khách quan tác động vào, và chúng điều hành mọi hoạt động, hành vi của con người. Chữ “tâm lý” có gốc Hy Lạp: psyche là linh hồn, logos là học thuyết.

Bản chất của tâm lý người

Theo quan điểm duy vật biện chứng mà giáo trình Việt Nam thường dùng, bản chất của tâm lý người gồm ba điểm:

  • Tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người. Tâm lý không tự sinh ra mà là “hình ảnh” của thế giới bên ngoài. Não là cơ quan thực hiện sự phản ánh đó.
  • Tâm lý mang tính chủ thể. Cùng một sự vật, mỗi người phản ánh một khác, vì mỗi người có kinh nghiệm, nhu cầu và đặc điểm thần kinh riêng. Ngay cùng một người, ở những thời điểm khác nhau cũng cảm nhận khác nhau.
  • Tâm lý có bản chất xã hội - lịch sử. Tâm lý người hình thành qua hoạt động và giao tiếp trong xã hội, nên thay đổi theo thời đại và môi trường sống. Trẻ bị tách khỏi xã hội loài người, như trường hợp “trẻ sói”, không phát triển được tâm lý người bình thường.
Bé gái tóc ngắn chăm chú nhìn trang giấy trong khi một người lớn ngồi cạnh cúi xuống chỉ bài
Tâm lý người hình thành qua hoạt động và giao tiếp với người khác. Ảnh của Jerry Wang trên Unsplash.

Chức năng của tâm lý là định hướng hoạt động, thúc đẩy hoặc kìm hãm hành động, và điều khiển, điều chỉnh hành động để đạt mục đích.

Phân loại hiện tượng tâm lý

Cách phân loại phổ biến nhất dựa vào thời gian tồn tại và vị trí của hiện tượng trong nhân cách:

Loại Đặc điểm Ví dụ
Quá trình tâm lý Diễn ra ngắn, có mở đầu, diễn biến, kết thúc Nhận thức (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng), cảm xúc, hành động ý chí
Trạng thái tâm lý Kéo dài hơn, làm “nền” cho các quá trình Chú ý, tâm trạng, lo âu
Thuộc tính tâm lý Ổn định, khó hình thành và khó mất, tạo nên nét riêng của nhân cách Xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực

Ngoài ra còn có các cách phân loại khác:

  • Có ý thức / chưa được ý thức (vô thức, tiềm thức).
  • Sống động / tiềm tàng. Loại sống động thể hiện ra hành vi, loại tiềm tàng tích đọng trong sản phẩm hoạt động.
  • Cá nhân / xã hội. Hiện tượng tâm lý xã hội gồm phong tục, tập quán, dư luận, tin đồn…

Nhiệm vụ của tâm lý học

Về lý luận, tâm lý học có ba nhiệm vụ:

  • Nghiên cứu bản chất của hoạt động tâm lý, cả mặt số lượng lẫn chất lượng.
  • Phát hiện các quy luật hình thành và phát triển tâm lý.
  • Tìm ra cơ chế diễn biến và thể hiện của các hiện tượng tâm lý.

Về thực tiễn, tâm lý học đưa ra các giải pháp vận dụng tri thức tâm lý vào đời sống. Các lĩnh vực ứng dụng gồm giáo dục, y tế, lao động sản xuất, quản lý, tư pháp, thể thao… Mục tiêu là nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng sống của con người.

Cô giáo khăn choàng sặc sỡ giơ năm ngón tay giảng bài cho một cậu bé áo đỏ trong lớp học sáng sủa
Giáo dục là một trong những lĩnh vực ứng dụng tâm lý học rộng nhất. Ảnh của Ahmadreza Rezaie trên Unsplash.

Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu

Các nguyên tắc phương pháp luận

  • Quyết định luận duy vật biện chứng. Tâm lý do hiện thực khách quan và hoạt động của não quyết định.
  • Thống nhất giữa tâm lý, ý thức và hoạt động. Tâm lý hình thành trong hoạt động và biểu hiện qua hoạt động.
  • Nghiên cứu tâm lý trong mối liên hệ giữa các hiện tượng tâm lý với nhau và với các hiện tượng khác.
  • Nghiên cứu tâm lý trong sự vận động và phát triển, không xem tâm lý là cái tĩnh, bất biến.
  • Nghiên cứu tâm lý của một con người cụ thể, đặt trong hoàn cảnh sống cụ thể.

Các phương pháp chính

  • Quan sát. Theo dõi biểu hiện bên ngoài như hành vi, cử chỉ, lời nói để suy ra tâm lý. Phương pháp này tự nhiên nhưng mất thời gian và dễ bị ảnh hưởng bởi chủ quan của người quan sát.
  • Thực nghiệm. Chủ động tạo ra điều kiện để hiện tượng cần nghiên cứu bộc lộ. Có hai dạng: thực nghiệm trong phòng thí nghiệm và thực nghiệm tự nhiên.
  • Test (trắc nghiệm). Dùng bộ công cụ đã chuẩn hóa để đo lường, ví dụ test trí tuệ, test nhân cách. Ưu điểm là nhanh và định lượng được, nhưng khó soạn và dễ chỉ đo được kết quả mà không thấy quá trình.
  • Đàm thoại (phỏng vấn). Hỏi và trò chuyện trực tiếp, theo kế hoạch định sẵn.
  • Điều tra bằng bảng hỏi (anket). Thu thập ý kiến của nhiều người trong thời gian ngắn.
  • Phân tích sản phẩm hoạt động, như bài viết, tranh vẽ, sản phẩm lao động.
  • Nghiên cứu tiểu sử. Tìm hiểu lịch sử cuộc đời của một cá nhân để hiểu tâm lý của họ.

Không phương pháp nào là vạn năng, nên cần phối hợp nhiều phương pháp để kết quả khách quan.

Hai người phụ nữ ngồi đối diện trong căn phòng sáng, một người đeo kính cầm sổ ghi chép lắng nghe người kia
Một buổi đàm thoại: người nghiên cứu vừa hỏi, vừa quan sát, vừa ghi lại. Ảnh của Vitaly Gariev trên Unsplash.

Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển

Thời cổ đại

Tư tưởng tâm lý nằm trong triết học và tôn giáo:

  • Khổng Tử bàn về chữ “tâm” và nhân, trí, dũng.
  • Socrates nêu châm ngôn “Hãy tự biết mình”.
  • Aristotle viết Bàn về tâm hồn, được coi là tác phẩm tâm lý học đầu tiên.

Từ đây hình thành cuộc đấu tranh giữa duy tâm (Plato: tâm hồn có trước, bất tử) và duy vật (Democritus: tâm hồn do nguyên tử cấu tạo).

Thế kỷ 17-18

  • Descartes theo thuyết nhị nguyên, cho rằng vật chất và tâm hồn tồn tại song song.
  • Năm 1732 và 1734, Christian Wolff xuất bản hai cuốn Tâm lý học kinh nghiệm và Tâm lý học lý trí. Thuật ngữ “tâm lý học” trở nên phổ biến từ đây.

1879: tâm lý học thành khoa học độc lập

Năm 1879, Wilhelm Wundt lập phòng thí nghiệm tâm lý học đầu tiên tại Leipzig (Đức). Đây được xem là mốc tâm lý học trở thành khoa học độc lập.

Ảnh đen trắng, ông lão râu bạc ngồi cạnh chiếc bàn gỗ đặt dụng cụ đo bằng đồng, năm người đàn ông đứng vây quanh
Wundt (ngồi) cùng nhóm cộng sự ở Leipzig, khoảng năm 1880. Tác giả không rõ, phạm vi công cộng, Wikimedia Commons.

Các trường phái đầu thế kỷ 20

  • Tâm lý học hành vi (Watson, Skinner): chỉ nghiên cứu hành vi quan sát được, theo công thức S → R (kích thích → phản ứng).
  • Tâm lý học Gestalt (Wertheimer, Köhler, Koffka): nghiên cứu tri giác và tư duy theo các cấu trúc trọn vẹn.
  • Phân tâm học (Freud): nhấn mạnh vai trò của vô thức và bản năng.
  • Tâm lý học nhân văn (Maslow, Rogers): đề cao bản chất tốt đẹp và nhu cầu tự hiện thực hóa của con người.
  • Tâm lý học nhận thức (Piaget, Bruner): nghiên cứu quá trình nhận thức và trí tuệ.
  • Tâm lý học hoạt động (Vygotsky, Leontiev, Rubinstein, Luria): dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng, coi tâm lý là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp. Đây là nền tảng chính của giáo trình tâm lý học ở Việt Nam.

Vị trí và vai trò của tâm lý học

Về vị trí, tâm lý học nằm ở giao điểm của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và triết học, theo sơ đồ “tam giác khoa học” của B.M. Kedrov. Lý do là tâm lý vừa có cơ sở sinh học (não, hệ thần kinh), vừa có bản chất xã hội, lại gắn với các vấn đề triết học như quan hệ giữa vật chất và ý thức.

Về vai trò:

  • Về triết học: góp phần khẳng định thế giới quan duy vật biện chứng và đấu tranh với quan điểm duy tâm về tâm hồn.
  • Về thực tiễn: là cơ sở cho các khoa học khác như giáo dục học, y học, quản lý, kinh tế, luật…
  • Trong đời sống: giúp mỗi người hiểu mình, hiểu người, giao tiếp tốt hơn và tự rèn luyện nhân cách.
Nhiều bàn tay trong những ống tay áo len đủ màu chồng lên nhau ở giữa vòng tròn
Hiểu mình, hiểu người: phần tâm lý học chạm vào đời sống hằng ngày. Ảnh của Hannah Busing trên Unsplash.

Thử: